Sao chổi liên sao 3I/ATLAS bùng sáng mạnh khi rời Hệ Mặt Trời

VNZ-TECHS
Các quan sát hồng ngoại mới nhất cho thấy sao chổi liên sao hiếm gặp 3I/ATLAS đã ghi nhận sự gia tăng độ sáng dữ dội trong hành trình rời khỏi Hệ Mặt Trời.

Sao-choi-3I-1.webp

Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) cho biết trong một tuyên bố rằng kính viễn vọng không gian SPHEREx (Spectro-Photometer for the History of the Universe, Epoch of Reionization and Ices Explorer – Thiết bị quang phổ kế thăm dò lịch sử vũ trụ, kỷ nguyên tái ion hóa và băng) của họ đã quan sát được hiện tượng này vào tháng 12 năm 2025. Khi đó, chỉ hai tháng sau khi đi qua điểm cận nhật, sao chổi bất ngờ giải phóng một lượng lớn khí, bụi và các phân tử phức tạp. Đợt bùng phát ngoài dự đoán này đã giúp các nhà khoa học có được cái nhìn rõ nét nhất từ trước đến nay về thành phần hóa học của vật chất hình thành quanh một ngôi sao khác.

Vào thời điểm ghi lại những hình ảnh này, sao chổi đã bắt đầu quay trở lại vùng ngoài của Hệ Mặt Trời. 3I/ATLAS không lặng lẽ biến mất trong bóng tối mà đột ngột trở nên rất năng động, hình thành một đám mây sao chổi phát sáng giàu hơi nước, carbon dioxide và các hợp chất hữu cơ. Các quan sát cũng cho thấy một đuôi bụi có hình dạng giống quả lê, được tạo ra do hoạt động của sao chổi gia tăng và vật chất đá liên tục bị phun ra ngoài.

Tác giả chính của nghiên cứu, Kerry Liss, cho biết trong tuyên bố: “Vào tháng 12 năm 2025, sau khi bay lướt qua Mặt Trời, sao chổi 3I/ATLAS đã phun trào mạnh mẽ vào không gian, khiến độ sáng tăng vọt; ngay cả băng nước cũng nhanh chóng thăng hoa thành khí trong môi trường liên hành tinh.”

Sao chổi 3I/ATLAS được phát hiện vào tháng 7 năm 2025 bởi hệ thống khảo sát tiểu hành tinh ATLAS. Đây là thiên thể liên sao thứ ba được con người xác nhận đi xuyên qua Hệ Mặt Trời, sau 1I/‘Oumuamua năm 2017 và 2I/Borisov năm 2019. Khác với hai “vị khách” trước đó, sao chổi này đã trình diễn một “màn biểu diễn” hóa học kéo dài, và kính viễn vọng SPHEREx sở hữu khả năng quan sát độc nhất vô nhị để theo dõi hiện tượng này.

SPHEREx sử dụng ánh sáng hồng ngoại để nghiên cứu vũ trụ, không chỉ nhận diện bụi mà còn phân tích chính xác các phân tử phức tạp do sao chổi phun ra, bao gồm băng nước, carbon dioxide, methane, methanol và cyanide – những vật chất then chốt trong quá trình hình thành hành tinh.

Thông thường, sao chổi hoạt động mạnh nhất khi ở gần điểm cận nhật (do nhiệt từ Mặt Trời khiến băng trên bề mặt thăng hoa). Tuy nhiên, dữ liệu từ SPHEREx cho thấy hoạt động của 3I/ATLAS lại tăng mạnh khá lâu sau khi đã qua cận nhật. Tuyên bố cho rằng điều này cho thấy ánh sáng Mặt Trời đã từ từ xuyên qua lớp bề mặt của sao chổi, cuối cùng kích hoạt sự giải phóng chậm trễ của các khối băng cổ xưa bị chôn vùi bên dưới.

sao-choi-3I-Atlas-1.webp

Liss cho biết: “Khoảng một phần ba cấu tạo của sao chổi là các khối băng nước, và nó đang giải phóng một lượng lớn vật chất giàu carbon mới, vốn trước đây bị niêm phong trong các lớp băng sâu. Chúng tôi đã quan sát được nhiều loại vật chất phổ biến trong Hệ Mặt Trời sơ khai, bao gồm các phân tử hữu cơ, muội carbon và bụi đá – những sản phẩm phun trào điển hình của sao chổi.”

Do 3I/ATLAS có nguồn gốc ngoài Hệ Mặt Trời, thành phần hóa học của nó mang lại một cơ hội quý giá để so sánh sao chổi trong Hệ Mặt Trời với các thiên thể băng hình thành quanh những ngôi sao khác. Những điểm tương đồng và khác biệt này giúp các nhà khoa học đánh giá liệu các vật liệu nguyên thủy cấu thành hành tinh, thậm chí là sự sống tiềm năng, có phổ biến trong Ngân Hà hay không.

Đồng tác giả nghiên cứu Phil Coengut cho biết: “Sao chổi này đã lang thang trong không gian liên sao suốt một thời gian rất dài, liên tục hứng chịu bức xạ vũ trụ năng lượng cao, khiến bề mặt của nó nhiều khả năng hình thành một lớp vỏ đã bị biến đổi bởi bức xạ. Giờ đây, năng lượng từ Mặt Trời đã xâm nhập sâu vào bên trong sao chổi, làm nóng các khối băng nguyên thủy dưới bề mặt và khiến chúng phun trào, giải phóng những hỗn hợp hóa học đã không lộ diện trong không gian suốt hàng chục tỷ năm.”

Kết quả nghiên cứu này đã được công bố vào tháng 2 năm 2026 trên tạp chí Research Notes of the American Astronomical Society (Bản tin Nghiên cứu của Hiệp hội Thiên văn Hoa Kỳ).
Nguồn tham khảo https://iopscience.iop.org/article/10.3847/2515-5172/ae3f95